Nang dưới nhện - ARACHNOID CYSTS

Bài sưu tầm

Đại cương

  • Nang dưới nhện là một tổn thương lành tính, bẩm sinh, ngoài trục, dịch trong nang dưới nhện gần giống hoặc giống như dịch não tủy (CSF)
  • Nang dưới nhện chiếm khoảng 1% tất cả những tổn thương chiếm chỗ không phải do chấn thương trong sọ. Từ khi chẩn đoán hình ảnh thần kinh phát triển tỉ lệ phát hiện ra nang dưới nhện cao hơn.
  • Mặc dù có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng 60-80% nang dưới nhện gặp ở trẻ em, và tỉ lệ nam/ nữ là 2/1 đến 3/1.
  • Nang dưới nhện là một nang bẩm sinh được bao bởi một lớp tế bào màng nhện mỏng. Nang có thể chia ngăn, hoặc thông thương với bể dịch não tủy xung quanh

Nang thứ phát có thể phát triển như là hậu quả của viêm màng não, chấn thương, chảy máu.​

Lâm sàng

  • Nang dưới nhện thường phổ biến ở trẻ em. Khoảng 75% nang dưới nhện xuất hiện trong 3 năm đầu. Tuổi trung bình là 2.2.
  • Triệu chứng lâm sàng thay đổi theo tuổi, vị trí của nang dưới nhện. Một vài nang dưới nhện không có triệu chứng trong suốt cuộc đời.
  • Triệu chứng phổ biến nhất là đau đầu, có thể do hiệu ứng khối, tăng áp lực nội sọ, hoặc giãn não thất, có thể không liên quan đến sự tồn tại của nang.
  • Trẻ nhỏ có thể biểu hiện đầu to, thóp trán rộng, chậm phát triển tâm thần vận động
  • Nang dưới nhện ở hố sọ giữa có thể liên quan đến chảy máu, nhưng biến chứng này không thường gặp
  1. Nang dưới nhện trên lều
  • Nang dưới nhện Sylvien chiếm một phần ba tất cả nang dưới nhện ở trẻ em và một nửa nang dưới nhện biểu hiện ở người lớn.
  • Biểu hiện thường gặp ở trẻ em thường gặp hơn người lớn và nam/ nữ là 3/1. Bên trái thường gặp hơn bên phải
  • Triệu chứng phổ biến nhất là đau đầu cùng bên ở trên ổ mắt hoặc vùng thái dương có thể tăng lên khi vận động. Đau đầu hiếm khi liên quan đến các triệu chứng khác của tăng áp lực nội sọ như buồn nôn, nôn vọt và phù gai thị. Triệu chứng phổ biến khác là động kinh
  • Nang dưới nhện hố sọ giữa và Sylvian được phân loại bởi Galassi và cs trên CT dựa theo liên quan của nó và bể dịch não tủy
  • Type I nhỏ, hình hạt đậu, 2 mặt lồi được đặt ở cực trước của hố sọ giữa ngay sau cánh xương bướm và thông thương với bể dịch não tủy. Có một ít liên quan với hiệu ứng khối và chúng thường không liên quan đến bất thường xương. Loại này không yêu cầu điều trị
  • Type II lớn hơn, hình tam giác hoặc tứ giác liên quan từ gần đến giữa của rãnh Sylvian với biên giới phía trong là rìa của thủy đảo. Chúng hiếm khi thông thương với bể dịch não tủy ở gần và thường yêu cầu điều trị hơn type I
  • Type III là nang lớn, tròn liên quan đến toàn bộ chiều dài rãnh Sylvian. Chúng thường liên quan đến hiệu ứng khối như đẩy lệch đường giữa và sự mở rộng của xương hố sọ giữa. Khoảng 30% nang dưới nhện là loại này. Chúng thường chiếm hố sọ giữa và đôi khi mở rộng về hố sọ trước ép bề mặt của thùy trán. Chúng thường không có thông thương với bể dịch não tủy và cần yêu cầu phẫu thuật
  • Nang dưới nhện quanh yên được phân thành nhóm trong hố yên và trên hố yên theo sự liên quan hình học với hố yên. Nang trên yên thường gặp hơn và đa số phát hiện ở trẻ em. Gần 50% nang trên yên được chẩn đoán ở trẻ nhỏ hơn 5 tuổi và 20% phát hiện ở trẻ nhỏ hơn 1 tuổi. Chúng thường biểu hiện với giãn não thất bởi sự mở rộng và trong não thất ba và tắc cống Sylvius. Chúng thường biểu hiện bất thường nhìn, bao gồm bán manh. Bất thường dáng đi và uốn người ra sau thường xảy ra ở những bệnh nhân với nang lớn và ở não giữa. 10-60% bệnh nhân với nang trên yên có bất thường nội tiết.
  • Nang dưới nhện trong hố yên ít gặp và thường gặp trong thập kỉ thứ 4 và thứ 5 cuộc đời. Triệu chứng phổ biến nhất là đau đầu, hiếm khi có bất thường về nhìn và nội tiết. Đôi khi khó phân biệt u sọ hầu trong hố yên hoặc nang Rathke’s trên hình ảnh học.

Hình 1: A- Nang dưới nhện type I. B- Nang dưới nhện type II.C- Nang dưới nhện type III

  • Nang dưới nhện của vỏ não thường biểu hiện đau đầu, động kinh hoặc cả hai. Tuổi, kích thước, vị trí sẽ có biểu hiện lâm sàng đặc hiệu. Nang nhỏ có thể chèn ép nhu mô não phía dưới và mỏng lớp xương trong khi đó nang lớn có thể dẫn tới phát triển xương không đối xứng, giãn khớp sọ, đè đầy đường giữa.Những nang này thường hay gặp ở nữ hơn là nam.
  • Nang ở khe liên bán cầu thường liên quan đến thể trai. Chúng thường biểu hiện đầu to và phát triển bất thường của xương sọ. Chúng đôi khi liên quan đến tăng áp lực nội sọ, chậm phát triển, tăng hoặc giảm trương lực, liệt nửa người, thay đổi thần kinh vận nhãn hoặc động kinh.
  • Nang dưới nhện vùng bể sinh tư thường gây giãn não thất do tắc cống Sylvian. Đầu to ở trẻ nhỏ là biểu hiện phổ biến. Những triệu chứng khác bao gồm hội chứng Parinaud,rung giật nhãn cầu, thiếu hụt nghe, liệt dây III.
  1. Nang dưới nhện vùng hố sau
  • Nang dưới nhện cùng góc cầu tiểu não có thể biểu hiện với ù tai, chóng mặt, liệt mặt, mất cảm giác mặt, điếc, rối loạn dáng đi. Những triệu chứng khác bao gồm đau dây V và đau nửa mặt. Nang lớn ở hố sọ sau thường gây giãn não thất.

Hình 2: Xung T2 trên MRI một nang dưới nhện lớn ở bán cầu bên (T)

Hình 3: Xung T2 trên MRI nang dưới nhện lớn ở vùng tuyến tùng

 

Hình ảnh học

  1. Hình ảnh học thường quy
  • Không đặc hiệu
  • Nang trong sọ thường được chẩn đoán trước sinh bằng siêu âm. Đây là một biện pháp không xâm lấn, rẻ tiền, rất hiệu quả để phát hiện nang từ tuần thứ 13.
  1. CT scanner, cộng hưởng từ
  • Nang dưới nhện bẩm sinh trên CT và MRI biểu hiện biên giới rõ, tổn thương có tỉ trọng đồng nhất với dịch não tủy.CT không tiêm thuốc cản quang thường hiệu quả để phân biệt  nang dưới nhện và  tổn thương nang khác. Vỏ của nang dưới nhện thường mỏng và không nhìn thấy trên CT, trong khi đó vỏ của các tổn thương u thường nhìn thấy. Vỏ của nang dưới nhện không tăng tỉ trọng sau tiêm.Đốm calci thường thấy ở vỏ của u sọ hầu quanh yên nhưng không thấy trong nang dưới nhện. Dịch của nang dưới nhện thường giống như dịch não tủy trừ khi có chảy máu, trong trường hợp đó xuất hiện tăng tỉ trọng so với dịch não tủy. Chụp não thất, bể dịch não tủy có thể phát hiện thông thương của nang dưới nhện và bể ở nền sọ. CT thông thường không thể xác định sự thông thương của nang dưới nhện và khoang dưới nhện xung quanh. CT với tiêm trong vỏ hoặc trong não thất với metrizamide có thể cung cấp chi tiết giải phẫu của khoang dưới nhện và não thất
  • Liên quan 3 chiều của nang dưới nhện với bể dịch não tủy được quan sát tốt nhất trên MRI. Cộng hưởng từ độ phân giải cao cho phép phát hiện những nang nhỏ và những nang cạnh xương. Cộng hưởng từ cũng có thể phân biệt dịch của nang dưới nhện với những dịch giàu protein của tổn thương nang khác.

Điều trị

  1. Điều trị bảo tồn
  • Điều trị bảo tồn được khuyến cáo cho những bệnh nhân không có triệu chứng.      
  1. Phẫu thuật
  • Khi nang dưới nhện gây tăng áp lực nội sọ hoặc giãn não thất phẫu thuật nên được chỉ định
  • Mở nắp sọ để cắt bỏ nang hoặc mở thông
  • Đặt shunt
  • Phẫu thuật nội soi

Tác giả: Bài sưu tầm

Chuyên khoa: Bài viết trên mạng

Giới thiệu: Tổng hợp những bài viết trên mạng từ những nguồn uy tín

Thông tin chi tiết

Viết bình luận của bạn: