}

Lưu lượng máu não

Bài sưu tầm

Lưu lượng máu não bình thường

            Bình thường lượng máu qua não ở người lớn trung bình từ 50-60 ml/100 gram não/phút. Tổng lượng máu đi vào não từ 750-900 ml/phút, hay 15% của lượng máu đi ra từ tim.

Sự điều hoà lưu lượng máu não

            Giống như hầu hết các vùng mạch máu của cơ thể, lưu lượng máu não tăng cao liên quan đến chuyển hoá của mô. Ít nhất ba yếu tố ảnh hưởng có sức thuyết phục trong vai trò kiểm soát lưu lượng máu não: (1) nồng độ CO2, (2) nồng độ ion H+, và (3) nồng độ O2.

            Tăng lưu lượng mạch máu não trong việc đáp ứng với tăng nồng độ CO2 hay tăng nồng độ ion H+. Sự tăng lên nồng độ CO2 trong động mạch tưới máu não làm tăng nhiều lưu lượng tưới máu não, tăng lên 70% nồng độ CO2 trong động mạch làm tăng lưu lượng máu não gần gấp hai lần.

            CO2 được tin là làm tăng lưu máu não bởi đầu tiên kết hợp với nước trong dịch cơ thể để hình thành carbonic acid (H2CO3), sau đó phân ly acid này thành các ion H+. Ion H+ gây giãn các mạch máu não - Sự giãn này hầu như tỉ lệ trực tiếp với sự tăng nồng độ ion H+ lên đến một mức giới hạn lưu lượng máu là khoảng gấp hai lần bình thường.

            Bất kỳ chất khác làm tăng độ acid của nhu mô não, và vì thế tăng nồng độ H+, cũng giống như vậy sẽ làm tăng lưu lượng máu não. Nhiều chất bao gồm acid lactic, acid pyruvic, và bất kỳ chất có tính acid khác được hình thành trong quá trình chuyển hoá mô.

            Sự quan trọng của sự kiểm soát lưu lượng máu não bởi CO2 và ion H+. Sự tăng nồng độ H+ làm giảm nhiều hoạt động thần kinh. Bởi vậy, may thay khi nồng độ ion H+ tăng lên cũng gây tăng lưu lượng máu, điều này giúp mang ion H+, CO2, và các chất có thành phần acid khác ra khỏi nhu mô não. Việc mất CO2 loại bỏ acid carbonic sinh ra từ mô, cũng như loại bỏ các acid khác, điều này làm nồng độ H+ trở về bình thường. Như vậy, cơ chế này giúp duy trì nồng độ H+ hằng định trong các dịch não và do đó giúp duy trì mức độ hoạt động thần kinh bình thường, hằng định.

            Thiếu oxy cũng điều hoà lưu lượng máu não. Ngoại trừ các giai đoạn não hoạt động mạnh, tần suất sử dụng oxy của mô não vẫn trong giới hạn hẹp - chính xác khoảng 3.5 (± 0.2) ml oxy mỗi 100 gram nhu mô não mỗi phút. Nếu lưu lượng máu đến não giảm thì làm giảm tổng lượng oxy cung cấp, thiếu oxy gây giãn mạch ngay lập tức, giúp lưu lượng máu não và sự vận chuyển oxy đến mô não gần bình thường. Vì vậy, cơ chế điều hoà lưu lượng máu cục bộ này hầu như chính xác tương tự nhau ở não cũng như ở các mạch máu của mạch vành, trong cơ vân, và trong hầu hết các vùng tuần hoàn khác của cơ thể.

            Các kinh nghiệm cho thấy một sự giảm PO2 < 30 mmHg (bình thường từ 35-40 mmHg) ngay lập tức bắt đầu tăng lưu lượng máu não. Đây là sự ngẫu nhiên bởi vì chức năng não bị rối loạn ở giá trị PO2 thấp không nhiều, đặc biệt ở mức PO2 < 20 mmHg. Thậm chí hôn mê có thể là hậu quả ở mức độ thấp này. Vì vậy, cơ chế oxy cho điều hoà cục bộ của lưu lượng máu não là một đáp ứng bảo vệ rất quan trọng chống lại sự giảm hoạt động thần kinh não và, vì thế chống lại rối loạn của chức năng thần kinh.

 

Đo lưu lượng máu não, và ảnh hưởng của hoạt động não dựa trên lưu lượng

            Một phương pháp đã được phát triển để ghi nhận lưu lượng máu  đồng thời trong 256 đoạn riêng lẽ của vỏ não người. Để làm việc này, một chất kích hoạt phóng xạ, như là kích hoạt phóng xạ neon, được tiêm vào trong động mạch cảnh, rồi kích hoạt phóng xạ của mỗi đoạn vỏ não được ghi nhận như là một chất kích hoạt phóng xạ đi xuyên qua nhu mô não. Để làm điều này, 256 máy dò bức xạ nhỏ được ép ngược lại trên vỏ não. Sự tăng nhanh và giảm đi của kích hoạt phóng xạ trong mỗi đoạn mô là một cách trực tiếp của tần suất lưu lượng máu xuyên qua đoạn đó.

Dùng kỹ thuật này, nó có thể rõ hơn nếu lưu lượng máu trong mỗi đoạn riêng của sự thay đổi não như là từ 100%-150% trong vài giây trong việc đáp ứng với hoạt động thần kinh cục bộ. Chẳng hạn, làm đơn giản là nắm bàn tay lại sẽ gây ra ngay lập tức tăng lưu lượng máu ở vùng vỏ não vận động của não đối bên.

 

Tự điều hoà lưu lượng máu não khi thay đổi áp lực động mạch

            Lưu lượng mạch máu não thì "tự điều hoà" rất tốt khi áp lực động mạch có giới hạn giữa 60 mmHg và 140 mmHg. Điều đó, huyết áp trung bình có thể giảm sâu xuống thấp như 60 mmHg hay tăng cao như 140 mmHg không gây thay đổi có ý nghĩa trong lưu lượng máu não. Ghi nhận sự rất hằng định của lưu lượng máu não khi huyết áp trung bình nằm giữa giới hạn 60 mmHg và 180 mmHg. Tuy nhiên, nếu áp lực động mạch rơi xuống dưới 60 mmHg, thì lưu lượng mạch máu não giảm rất nặng.

Vai trò của hệ thần kinh giao cảm trong kiểm soát lưu lượng máu não

            Hệ thống tuần hoàn não được phân bố giao cảm rất mạnh qua các sợi hướng lên của hạch giao cảm cổ trên ở cổ và rồi đi vào não cùng với các động mạch não. Tuy nhiên, cắt ngang các dây thần kinh giao cảm hay kích thích nó từ nhẹ đến vừa thường gây ra rất ít thay đổi trong lưu lượng máu não bởi vì cơ chế tự điều chỉnh lưu lượng máu não có thể làm mất tác dụng của các thần kinh này.

            Khi huyết áp trung bình thật sự tăng lên đến một mức độ cao khác thường, như là trong lúc hoạt động gắng sức hay trong những tình trạng khác của hoạt động tuần hoàn quá mức, hệ thần kinh giao cảm thường gây co những động mạch não có kích thước lớn hay vừa đủ để phòng ngừa tình trạng áp lực cao ảnh hưởng đến các mạch máu nhỏ hơn của não. Đây là sự quan trọng trong phòng ngừa xuất huyết mạch máu vào trong não - điều đó, giúp phòng ngừa xảy ra "đột quị não".

 

Vi tuần hoàn não

            Cũng đúng với hầu hết các mô khác của cơ thể, số lượng mao mạch trong não là lớn nhất, nơi cần cho sự chuyển hoá lớn nhất. Tần suất toàn bộ chuyển hoá của chất xám não (nơi thân tế bào thần kinh) gấp bốn lần nhiều hơn chất trắng; tương ứng, số lượng mao mạch và tần suất lưu lượng máu thì cũng khoảng gấp bốn lần so với chất trắng.

            Một đặc tính cấu trúc quan trọng của mao mạch não là nó ít có "lỗ rò" hơn các mao mạch ở hầu hết bất kỳ các mô nào của cơ thể. Một lý do cho điều này là các mao mạch được hỗ trợ bởi tất cả các vị trí bởi "các chân thần kinh đệm", các phần nhỏ nhô ra từ xung quanh tế bào thần kinh đệm tiếp giáp với tất cả các bề mặt của mao mạch và cung cấp sự hỗ trợ vật lý để phòng ngừa sự căng của các mao mạch trong trường hợp áp lực máu mao mạch tăng.

            Thành của các tiểu động mạch dẫn đến mao mạch não trở nên dày hơn ở những người áp lực mạch máu tăng cao, và các tiểu động mạch này vẫn co thắt có ý nghĩa ở tất cả thời gian để phòng ngừa sự lan truyền áp lực cao đến các mao mạch.

"Đột quị" não xảy ra khi mạch máu não bị tắc nghẽn

            Hầu như tất cả người già bị tắc nghẽn một vài động mạch nhỏ trong não, và cuối cùng 10% mạch máu bị tắc nghẽn là nguyên nhân gây rối loạn nặng chức năng não, tình trạng được gọi là "đột quị".

            Hầu hết các đột quị được gây ra bởi các mảng xơ vữa động mạch, xảy ra ở một hay nhiều động mạch nuôi dưỡng não. Các mảng này có thể hoạt hoá cơ chế đông máu của máu, gây ra một cục máu đông và tắc nghẽn bên trong dòng máu động mạch, do đó dẫn đến mất chức năng cấp tính trong một vùng cục bộ.

            Trong khoảng 1/4 những người tiến triển đột quị, áp lực máu cao làm một trong các mạch máu bị vỡ, tiếp theo xảy ra xuất huyết, chèn ép mô não cục bộ và hơn thế nữa gây ảnh hưởng đến chức năng não. Các ảnh hưởng thần kinh của một đột quị được xác định bởi những vùng não bi ảnh hưởng. Một trong những dạng thường gặp nhất của đột quị là tắc động mạch não giữa vùng mạch máu cung cấp cho đoạn giữa của một bên bán cầu. Chẳng hạn như, nếu động mạch não giữa bị tắc nghẽn ở bên trái của não thì bệnh nhân giống như loạn trí hoàn toàn vì mất chức năng vùng hiểu ngôn ngữ Wernick nằm ở bán cầu não bên trái, và bệnh nhân cũng có thể không nói được từ ngữ bởi vì mất vùng vận động ngôn ngữ Broca cho việc hình thành từ ngữ. Thêm vào đó, mất chức năng vùng kiểm soát vận động thần kinh ở bán cầu trái có thể gây ra liệt vận động phần lớn các cơ ở đối bên của cơ thể.

            Trong một cách thức tương tự, tắc một động mạch não sau sẽ gây ra nhồi máu thuỳ chẩm của bán cầu cùng bên tắc nghẽn, gây ra mất thị lực cả hai mắt ở một nửa của võng mạc cùng bên với tổn thương đột quị.

Tác giả: Bài sưu tầm

Chuyên khoa: Bài viết trên mạng

Giới thiệu: Tổng hợp những bài viết trên mạng từ những nguồn uy tín

Thông tin chi tiết

Viết bình luận của bạn: