}

Triệu chứng của Chấn thương sọ não

Bài sưu tầm

Dịch tễ học

Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách – Bộ Y tế năm 2013, chấn thương sọ não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở Việt Nam (sau bệnh lý tim mạch).

Ở trẻ em, theo nghiên cứu tại khoa cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng 2, trong số các ca Chấn thương sọ não có 84,8% trẻ ≥ 2 tuổi, Nam/ nữ =1,5/1. Té, tai nạn giao thông là những nguyên nhân chính gây chấn thương sọ não. Gần ½ tử vong do chấn thương sọ não xảy ra trước khi nhập viện.


Ở người lớn, nghiên cứu trên các bệnh nhân chấn thương sọ não nhập bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy: độ tuổi trung bình là 37, trong đó phần lớn từ 16 đến 60 tuổi (độ tuổi lao động); nam giới chiếm 84%.

Có đến 96% các trường hợp do tai nạn giao thông gây ra, chủ yếu là xe gắn máy. Chấn thương đầu xảy ra phần lớn vào khoảng thời gian từ 17 giờ tối đến 23 giờ đêm. Có đến 17,8% bệnh nhân phải chịu đời sống thực vật sau chấn thương sọ não. Trong số các trường hợp chấn thương sọ não do tai nạn giao thông:

  • Rượu là yếu tố gây tai nạn quan trọng.
  • Người đi bộ bị tai nạn cũng chiếm tỉ lệ khá cao.
  • Xe chạy quá tốc độ và không tôn trọng luật lệ giao thông là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tình trạng tai nạn giao thông.

Triệu chứng của Chấn thương sọ não là gì?

Các triệu chứng thay đổi khá nhiều tùy thuộc độ nặng của chấn thương đầu. Chấn thương sọ não có thể bao gồm bất kì triệu chứng nào sau đây:
  • Nôn ói
  • Ngủ gà
  • Đau đầu
  • Lú lẫn
  • Liệt
  • Hôn mê
  • Mất ý thức
  • Giãn đồng tử
  • Thị giác thay đổi (nhìn nhòe hoặc nhìn đôi, không thể chịu được ánh sáng chói, mất cử động mắt, mù)
  • Dịch não tủy chảy ở tai hoặc mũi (có thể trong hoặc nhuốm máu)
  • Chóng mặt và rối loạn thăng bằng
  • Có vấn đề hô hấp
  • Nhịp tim chậm, nhịp thở chậm, với tăng huyết áp
  • Nghe tiếng vang trong tai, hoặc thay đổi thính giác
  • Nhận thức khó khăn
  • Đáp ứng cảm xúc không phù hợp
  • Nói khó (nói lắp, không thể hiểu được và/hoặc nói không lưu loát)
  • Nuốt khó
  • Cảm giác tê hoặc kiến bò trên người
  • Sụp mi mắt hoặc yếu cơ mặt
  • Mất nhu động ruột hoặc mất kiểm soát bàng quang (bọng đái)
Nếu nghi ngờ chấn thương sọ não, gọi ngay số điện thoại cấp cứu (115) hoặc đưa bệnh nhân đến phòng cấp cứu.

Tổn thương ngoại khoa

Thuật ngữ “khối choán chỗ” (mass lesion) thường được dùng khi nói về chấn thương sọ não. Nó ám chỉ một vùng tổn thương khu trú có thể gây tăng áp lực nội sọKhối choán chỗ thường gặp nhất là khối máu tụ và dập não.

Khối máu tụ bên trong não hoặc trên bề mặt não. Khối máu tụ có thể xảy ra ở bất kì vị trí nào trong não. Máu tụ ngoài màng cứng là là một khối máu nằm giữa màng cứng (phần bảo vệ bên ngoài não) và phần bên trong não. Máu tụ dưới màng cứng là một khối máu nằm giữa màng cứng và màng nhện – nằm ngay trên bề mặt não.
Dập não (contusion) là sự dập mô não.

Khi xem dưới kính hiển vi, vùng dập não có thể so sánh với vết bầm trên cơ thể. Vùng dập não bao gồm các khu vực não chấn thương hoặc phù, với máu rỉ ra khỏi động mạch, tĩnh mạch hoặc mao mạch. Dập não thường gặp nhất ở vùng nền của phần trước não, nhưng cũng có thể xảy ra ở bất kì vị trí nào.


Xuất huyết nội sọ (chảy máu trong não) là tình trạng máy chảy bên trong nhu mô não, có thể liên quan đến các chấn thương não khác, đặc biệt là dập não. Kích thước và vị trí chỗ chảy máu giúp bác sĩ xác định có thể phẫu thuật lấy máu tụ hay không.

Xuất huyết dưới nhện là do chảy máu vào trong khoang dưới nhện. Có thể hình dung đó là tình trạng máu chảy lan thành một lớp mỏng trên bề mặt não, và thường gặp sau chấn thương sọ não. Hầu hết các ca xuất huyết dưới nhện liên quan đến chấn thương đầu thường là nhẹ. Não úng thủy có thể là hậu quả của xuất huyết dưới nhện nghiêm trọng do chấn thương.

Chấn thương não lan tỏa

Chấn thương sọ não có thể tạo ra những biến đổi vi thể không thấy được trên CT scan và rải rác khắp não. Loại chấn thương này gọi là chấn thương não lan tỏa, có thể xảy ra cùng hoặc không cùng với khối choán chỗ.
Tổn thương sợi trục lan tỏa liên quan đến suy giảm chức năng và mất dần một số sợi trục – bộ phận liên kết các tế bào thần kinh trong não, dù các tế bào này ở xa nhau. Nếu nhiều sợi trục bị tổn thương theo cách này, các tế bào thần kinh sẽ mất hoặc giảm trầm trọng khả năng liên kết với nhau, có thể làm cho bệnh nhân tàn phế nặng nề.
Một loại tổn thương lan tỏa khác là thiếu máu cục bộ não, tức không đủ máu nuôi đến một phần nào đó trong não. Tình trạng này xảy ra phổ biến ở các bệnh nhân chấn thương sọ não. Đó là một vấn đề quan trọng vì não mới bị chấn thương sẽ đặc biệt nhạy cảm với giảm lưu lượng máu, dù chỉ rất nhỏ. Sự thay đổi áp lực máu trong vài ngày đầu sau chấn thương đầu cũng có thể gây ra tác động có hại.

Nứt sọ

Không cần điều trị cho hầu hết các trường hợp nứt sọ hẹp, chỉ vỡ hoặc nứt đơn giản ở hộp sọ. Điều cần quan tâm hơn là khả năng lực tác động đủ mạnh để gây tổn thương não bên trong. Nứt ở nền sọ sẽ là vấn đề nếu nó gây chấn thương thần kinh, động mạch hoặc các cấu trúc khác. Nếu vết nứt kéo dài vào trong các xoang, có thể gây rò rỉ dịch não tủy từ mũi hoặc tai.

Hầu hết các chỗ rò rỉ sẽ ngừng tự nhiên. Tuy nhiên, đôi khi cần phải đặt ống dẫn lưu ở thắt lưng, một ống dài, mỏng, mềm, đưa vào khoang dịch não tủy ở vùng cột sống thắt lưng thấp. Cách này sẽ tạo đường dẫn lưu dịch não tủy thay thế, do đó vết rách màng cứng gây dò dịch não tủy ở nền sọ sẽ có thời gian để hàn gắn.Nứt sọ chèn ép là trường hợp một phần xương đè vào trong não. Tình huống này cần phải phẫu thuật. Tổn thương do nứt sọ chèn ép tùy thuộc vào vùng não bên dưới và sự tồn tại đồng thời của bất kỳ chấn thương não lan tỏa nào.

Phục hồi chức năng

Khi bệnh nhân chấn thương đầu được điều trị qua khỏi tình trạng cấp tính, có thể cần một chương trình phục hồi chức năng. Các đối tượng chính cần phục hồi chức năng là các bệnh nhân có chấn thương ban đầu không quá nghiêm trọng, hoặc các bệnh nhân đã bắt đầu hồi phục đáng kể.

Trong một số trường hợp, có thể chuyển bệnh nhân đến một bệnh viện phục hồi chức năng hoặc đến khoa phục hồi chức năng của một bệnh viện lớn. Đối với bệnh nhân chấn thương nặng hơn hoặc quá trình hồi phục chậm, phải luôn thận trọng để tránh xuất hiện các vấn đề như vận động khớp, loét da, tình trạng hô hấp, nhiễm trùng, và các chức năng sinh lý khác. Các bệnh nhân chấn thương nhẹ hoặc vừa, cũng như chấn thương nặng đã cải thiện tốt, có thể được điều trị ngoại trú.

Hầu hết các trung tâm điều trị chấn thương đầu đều chú trọng các chương trình phục hồi, giúp bệnh nhân đạt được mức độ chức năng tốt nhất mà họ làm được. Khái niệm về tái huấn luyện nhận thức, trong đó giả định rằng ít nhất một vài chức năng nhận thức của não có thể được hồi phục bằng cách lặp đi lặp lại một số thao tác đơn giản, còn đang gây tranh cãi nhưng cũng đã được chú trọng ở nhiều trung tâm.

Một mục đích quan trọng khác của phục hồi chức năng sau chấn thương đầu là làm việc với gia đình bệnh nhân để hướng dẫn họ những gì có thể mong đợi và cách tốt nhất để họ giúp đỡ bệnh nhân.
Khám trực tuyến 24/7 với bác sĩ Ngoại thần kinh để được tư vấn phục hồi chức năng và dặn dò những triệu chứng cần lưu ý khi theo dõi người bệnh tại nhà.

Những lời khuyên giúp phòng ngừa chấn thương đầu thông thường

  • Tránh để đồ vật bừa bãi trên sàn nhà, cầu thang.
  • Đặt thảm chùi chân không trơn trượt trong nhà tắm.
  • Lắp các thanh vịn, tay vịn nếu bạn lớn tuổi hoặc yếu.
  • Lắp tấm chắn cửa sổ để phòng ngừa té ngã.
  • Trong nhà nên đủ ánh sáng.
  • Luôn thắt dây an toàn mỗi khi lái xe hơi.
  • Không bao giờ lái xe khi uống rượu hoặc ngồi trên xe của tài xế say rượu.
  • Tuân thủ mọi tín hiệu giao thông và quan sát xe cộ khi tham gia giao thông.
  • Đội nón bảo hiểm khi đi xe máy, xe đạp điện.
  • Tăng cường tuyên truyền giáo dục luật lệ an toàn giao thông trong toàn dân. Cần ý thức được rằng CTSN gây tàn phế cho bản thân, gia đình, xã hội.

Những lời khuyên giúp phòng ngừa chấn thương đầu do thể thao

  • Luôn dùng nón bảo hiểm hoặc dụng cụ bảo hộ đầu cho các môn thể thao chuyên biệt.
  • Luôn luôn giám sát trẻ nhỏ, không cho chúng dùng các dụng cụ thể thao hoặc chơi các môn thể thao không phù hợp với lứa tuổi.
  • Tuân thủ các quy tắc an toàn ở công viên nước, hồ bơi và các bãi biển công cộng.
  • Mặc trang phục thể thao phù hợp.
  • Không mặc trang phục có thể gây cản trở tầm nhìn.
  • Không chơi thể thao khi bị bệnh hoặc quá mệt.
  • Thường xuyên kiểm tra độ an toàn của sân và dụng cụ thể thao.
  • Loại bỏ và thay thế các dụng cụ thể thao hoặc đồ bảo hộ bị hư hỏng.

Tác giả: Bài sưu tầm

Chuyên khoa: Bài viết trên mạng

Giới thiệu: Tổng hợp những bài viết trên mạng từ những nguồn uy tín

Thông tin chi tiết

Viết bình luận của bạn: